Đóng menu x

Quy định khai báo hóa chất nhập khẩu

ứng phó sự cố hóa chất

Quy định khai báo hóa chất nhập khẩu

Quy định khai báo hóa chất nhập khẩu

Về việc quy định khai báo hóa chất nhập khẩu (ý kiến tại mục 2, 3.5 Công văn số 7678/TCHQ-GSQL)

CÔNG VĂN 1372/HC-VP NĂM 2017 VỀ TRẢ LỜI VƯỚNG MẮC KHI THỰC HIỆN NGHỊ ĐỊNH 113/2017/NĐ-CP DO CỤC HÓA CHẤT BAN HÀNH

Về việc khai báo hóa chất nhập khẩu đối với hỗn hợp chất

Khoản 2 Điều 25 của NĐ113 quy định: “Hóa chất phải khai báo bao gồm các chất thuộc Danh mục hóa chất phải khai báo và các hỗn hợp chứa các chất thuộc Danh mục hóa chất phải khai báo được phân loại theo quy định tại Điều 23 của Nghị định này là hóa chất nguy hiểm trừ trường hợp được miễn trừ theo quy định tại Điều 28 Nghị định này.”

Như vậy các hỗn hợp chất trong thành phần có chứa hóa chất thuộc Danh mục hóa chất phải khai báo (quy định tại Phụ lục V của NĐ113) nếu được phân loại là hóa chất nguy hiểm, thì tổ chức, cá nhân khi nhập khẩu phải thực hiện khai báo hóa chất và khi thực hiện, tổ chức, cá nhân chỉ phải khai báo các thành phần có tên trong Phụ lục V của NĐ113.

Việc quy định giới hạn hàm lượng hóa chất phải khai báo trong hỗn hợp là không khả thi do một chất có thể tồn tại trong rất nhiều hỗn hợp. Các hỗn hợp có thể khác nhau về thành phần, hàm lượng, tính chất nguy hiểm của hỗn hợp thay đổi theo thành phần và hàm lượng các chất trong hỗn hợp. Do đó, việc xác định một hỗn hợp chất có nguy hiểm và phải được quản lý hay không cần căn cứ theo kết quả phân loại đối với từng hỗn hợp. Đối với hóa chất nhập khẩu, các đơn vị có liên quan có thể tham khảo thông tin về phân loại hóa chất trên phiếu An toàn hóa chất do nhà sản xuất cung cấp.

Về đề nghị khai báo số lượng hóa chất nhập khẩu theo nhu cầu trong 1 thời gian nhất định, không cần theo hóa đơn

Thủ tục khai báo hóa chất nhập khẩu theo quy định tại NĐ113 đã được đơn giản hóa đến tối đa, kết quả được phản hồi tự động qua hệ thống điện tử gần như ngay sau khi tổ chức, cá nhân gửi thông tin khai báo. Do đó, việc khai báo hóa chất theo từng lần nhập khẩu không gây tốn nhiều công sức, thời gian của doanh nghiệp và giúp cơ quan quản lý có được số liệu chính xác về số lượng hóa chất được nhập khẩu vào lãnh thổ Việt Nam.

Về trường hợp miễn trừ khai báo quy định tại khoản 3 Điều 28

– Khoản 3 Điều 28 quy định: “Hóa chất nhập khẩu dưới 10 kg/một lần nhập khẩu”, theo đó, ngưỡng khối lượng miễn trừ 10 kg được tính cho một hóa chất (ngoại trừ hóa chất hạn chế sản xuất, kinh doanh) trong một lần nhập khẩu, không phải tổng khối lượng của nhiều hóa chất khác nhau.

Đối với ví dụ được nêu tại mục 3.5.c.1 của Công văn số 7678/TCHQ-GSQL , vì khối lượng nhập khẩu của cả hai hóa chất là 5kg và 6 kg, đều nhỏ hơn 10kg nên doanh nghiệp không cần khai báo cho cả hai hóa chất này nếu cả hai hóa chất này đều không phải là hóa chất hạn chế sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực công nghiệp.

– Đối với hỗn hợp chất: theo giải thích từ ngữ của Luật Hóa chất, hỗn hợp chất là một trường hợp của hóa chất. Hỗn hợp chứa các chất thuộc Danh mục hóa chất phải khai báo nếu được phân loại là hóa chất nguy hiểm thì bản thân hỗn hợp đó là một hóa chất phải khai báo. Ngưỡng khối lượng miễn trừ 10kg phải được tính cho hóa chất tức hỗn hợp này, không phải tính cho thành phần của hóa chất.

Đối với ví dụ được nêu tại mục 3.5.c.1 của Công văn số 7678/TCHQ-GSQL , nếu hỗn hợp đó là hóa chất nguy hiểm thì hỗn hợp đó phải được khai báo khi nhập khẩu và không thuộc diện miễn trừ vì khối lượng nhập khẩu là 11kg, lớn hơn 10kg.

Về đối tượng áp dụng (ý kiến tại mục 3.1 Công văn số 7678/TCHQ-GSQL)

Đối tượng áp dụng của NĐ113 được quy định tại Điều 2 của Nghị định: “Nghị định này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động hóa chất; tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động hóa chất trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.”

Căn cứ theo Điều 2 của NĐ113 và giải thích từ ngữ “hoạt động hóa chất” tại Điều 4 của Luật Hóa chất, các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động đầu tư, sản xuất, sang chai, đóng gói, mua bán, xuất khẩu, nhập khẩu, vận chuyển, cất giữ, bảo quản, sử dụng, nghiên cứu, thử nghiệm hóa chất, xử lý hóa chất thải bỏ, xử lý chất thải hóa chất và các tổ chức, cá nhân có liên quan đến các hoạt động này trên lãnh thổ Việt Nam đều thuộc đối tượng áp dụng của NĐ113.

Tuy nhiên, việc áp dụng quy định nào trong Nghị định đối với từng loại hình hoạt động cần căn cứ theo nội dung cụ thể của quy định đó.

Cụ thể đối với trường hợp được nêu tại mục 3.1 của Công văn số 7678/TCHQ-GSQL , doanh nghiệp nhập khẩu hóa chất để trực tiếp sử dụng, không cung ứng trên thị trường nhằm mục đích sinh lời, không phải là tổ chức kinh doanh hóa chất, tuy nhiên, các doanh nghiệp này phải thực hiện theo các quy định của NĐ113 về nhập khẩu hóa chất, an toàn hóa chất, phân loại hóa chất, sử dụng hóa chất….

Về chứng từ phải xuất trình cho cơ quan hải quan khi thực hiện thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu hóa chất (ý kiến tại mục 3.2, ý kiến thứ 5 mục 3.8 Công văn số 7678/TCHQ-GSQL) NĐ113 chỉ quy định hai loại giấy tờ là điều kiện để thông quan:

– Khoản 1 Điều 12 quy định: “Tổ chức, cá nhân xuất khẩu, nhập khẩu tiền chất công nghiệp phải có Giấy phép do cơ quan có thẩm quyền cấp. Giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu tiền chất công nghiệp là điều kiện để thông quan khi xuất khẩu, nhập khẩu tiền chất công nghiệp.”

– Khoản 1, khoản 4 Điều 27 quy định: “Tổ chức, cá nhân nhập khẩu hóa chất phải khai báo có trách nhiệm thực hiện khai báo hóa chất nhập khẩu trước khi thông quan qua Cổng thông tin một cửa quốc gia.”; “Thông tin phản hồi khai báo hóa chất nhập khẩu qua Cổng thông tin một cửa quốc gia theo mẫu quy định tại Phụ lục VI Nghị định này, có giá trị pháp lý để làm thủ tục thông quan.”

Nghị định không quy định Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất, kinh doanh hóa chất sản xuất, kinh doanh có điều kiện; Giấy phép sản xuất, kinh doanh hóa chất hạn chế sản xuất, kinh doanh; bản phê duyệt Kế hoạch, Biện pháp phòng ngừa, ứng phó sự cố hóa chất; Phiếu kiểm soát mua bán hóa chất độc là điều kiện để thông quan. Các tổ chức, cá nhân không phải xuất trình các giấy tờ này khi làm thủ tục thông quan.

Để quản lý nhập khẩu, các hóa chất thuộc Phụ lục I và Phụ lục II đều đã có tên trong Phụ lục V và phải được khai báo khi nhập khẩu.

Về quy định nhập khẩu hóa chất độc (ý kiến tại mục 3.4 Công văn số 7678/TCHQ-GSQL)

Đối với hóa chất độc, Luật Hóa chất chỉ quy định việc lập Phiếu kiểm soát mua, bán hóa chất độc, không có quy định về thủ tục hành chính áp dụng riêng cho hóa chất độc.

Tùy theo tính chất và cấp độ nguy hiểm khác nhau, các hóa chất độc đã được đưa vào các Danh mục hóa chất quy định tại NĐ113 và sẽ được quản lý theo các quy định tương ứng với từng Danh mục.

Bình luận

Tel: 090306 3599